Miền tây nam bộ còn được gọi là vùng đồng bằng sông Cửu Long ,hay ta cũng có thể gọi với một tên gọi khác là vùng đồng bằng Nam Bộ, Tây Nam Bộ, theo cách gọi dân dã của người dân Việt nam  ta cũng có thể gọi ngắn gọn là miền tây.

Giới thiệu chi tiết miền Tây Nam Bộ

miền tây nam bộ

Miền Tây Nam Bộ bao gồm tất cả là 12 tỉnh: “Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc trăng, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau” và có 1 thành phố trung ương là” TP.Cần Thơ”.

Với cảnh quan thanh bình đặc trưng của vùng quê Việt Nam cùng với những người dân chất phát, thật thà đã tạo nên nét riêng biệt đặc trưng của vùng đồng bằng Nam Bộ.

Đôi nét sơ lược về miền Tây Nam Bộ

Là bộ phận thuộc châu thổ của sông Mê Kông có diện tích 40,6 nghìn km2 chiếm diện tích khoảng 12,3% diện tích của cả nước và vùng bờ biển kéo dài lên tới 700km tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế biển.

Được hình thành từ những trầm tích phù sa và được bồi đắp dần qua những kỷ nguyên thay đổi của mực nước biển nên miền Tây Nam Bộ còn được gọi là vựa lúa lớn nhất của Việt Nam, hiện nay đang là một trong 7 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam.

Vị trí địa lý miền Tây Nam Bộ trên bản đồ Việt Nam

Miền Tây Nam Bộ có vị trí địa lý nằm liền kề vùng Đông Nam bộ, phía bắc giáp với Camphuchia, phía tây nam là vịnh Thái lan và phía đông, đông nam giáp với Biển Đông.

bản đồ vùng miền Việt Nam

Các điểm cực trên đất liền của Miền tây Nam Bộ lần lượt là: điểm cực đông nằm ở xã Thừa Đức, huyện Bình Đại thuộc tỉnh Bến Tre, điểm cực tây ở phường Mỹ Đức, thành phố Hà Tiên tỉnh Kiên Giang, cực nam ở xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau (đây cũng là nơi được gọi là cực Nam của Việt Nam) và điểm cực bắc thuộc về xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng của tỉnh Long An.

Miền Tây Nam bộ cũng sở hữu đường bờ biển kéo dài chạy dọc theo các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang và cuối cùng là Cà Mau. Ngoài ra còn bao gồm các đảo và quần đảo lớn nhỏ như là đảo Phú Quốc, quần đảo Thổ Chu, Hòn Khoai.

Hệ thống sông ngòi miền Tây Nam Bộ

Miền Tây Nam Bộ là vùng đồng bằng thấp và là một vùng đồng bằng ngập nước, được giới hạn trong phạm vi bởi các dòng sông, kênh, rạch chảy trong lãnh thổ của Việt Nam, được nhận lưu lượng nước từ 2 dòng chính sông Mê Kông là sông Hậu Giang và sông Tiền Giang (hay còn được gọi là sông Tiền Và sông Hậu).

Hệ thống sông ngòi miền Tây Nam Bộ

Có được hệ thống kênh rạch chằng chịt bao gồm các sông lớn nhỏ như sông Cửu Long, sông Tiền, sông Hậu, sông Hàm Luông, Vàm Cỏ Đông, Vàm cỏ Tây… nên nơi đây phù sa rất là màu mỡ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.

Khí hậu miền Tây Nam Bộ là nhiệt đới ẩm gió mùa

Về mặt thời tiết, miền Tây Nam Bộ nằm trong vùng khí hậu cận Xích đạo và nhiệt đới gió mùa, đây cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành nông nghiệp đặc biệt là lúa nước và cây lương thực. Kết hợp với hệ thống sông ngòi chằng chịt nên nơi đây khí hậu rất là mát mẻ.

Đặc biệt khí hậu nơi đây được chia làm 2 mùa chính đó là mùa nắng và mùa mưa. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 cho đến tháng 11, và mùa nắng bắt đầu từ tháng 12 kéo dài cho đến tháng 4 của năm sau với thời tiết 2 mùa rõ rệt.

Mật độ dân số miền Tây Nam Bộ so với cả nước

Miền Tây Nam Bộ có tổng dân số tương đương là 17.660.6 nghìn người tính theo thời điểm năm 2016 chiếm khoảng 19% mật độ dân số của cả nước, tốc độ tăng trưởng tăng nhanh (năm 2015 tăng 7,8% trong khi cả nước tăng là 6,8%).

Mật độ dân số miền Tây Nam Bộ

Với mật độ dân số như vậy nên nơi đây có nguồn lao động dồi dào, tuy nhiên miền Tây Nam Bộ đứng về bình quân thu nhập theo đầu người vẫn còn thấp so với cả nước (thu nhập với mức 40,2 triệu đồng so với cả nước là 47,9 triệu đồng.người/năm).

Hậu Giang là tỉnh có dân số thấp nhất so với 12 tỉnh còn lại của vùng với 772.5 nghìn người trong khi An Giang là tỉnh có dân số đông nhất với 2.159,9 nghìn người, và Cà Mau là tỉnh có mật độ dân số cao nhất miền Tây Nam Bộ.

Bản đồ thứ tự các tỉnh miền Tây Nam Bộ

Nếu như Miền Bắc níu chân du khách bằng những danh lam thắng cảnh hùng vĩ đồ sộ như Vịnh Hạ Long, hay Hang Én, Sơn Đoòng, phiêu như cao nguyên Đá Hà GIang… Thì ở miền Tây Nam Bộ lại níu giữ những du khách bằng sự ân tình mộc mạc , cù lao chàm bạt ngàn hay vườn cây trái sum suê đó cũng chính là điểm đặc trưng của miền sông nước.

Bản đồ các tỉnh miền Tây Nam Bộ

Tấm bản đồ này là một sự lựa chọn mang đến tính bao quát và khá là chi tiết đầy đủ dành cho những bạn nào muốn tham khảo, mời các bạn xem qua hình ảnh:

Bản đồ các tỉnh miền Tây Nam Bộ

Thứ tự các tỉnh miền Tây Nam Bộ

Thứ tự của các tỉnh miền Tây Nam Bộ sẽ lần lượt là Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Vĩnh Long, An Giang, Trà Vinh, Cần Thơ, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và cuối cùng là Cà Mau. Thành phố Cần Thơ là vị trí trung tâm của miền Tây Nam Bộ

Với vị trí nằm liền kề giáp ranh với vùng Đông Nam Bộ sẽ là Long An (giáp với thành phố Hồ Chí Minh), phía bắc sẽ giáp với Camphuchia, bên phía tây nam là vịnh Thái lan, phía đông và phía nam  giáp với Biển Đông.

Lịch sử hình thành miền Tây Nam Bộ qua các thời kì

Lịch sử hình  thành nên miền Tây Nam bộ nói riêng hay Nam Bộ nói chung trước kia là vùng lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp và có chung quá trình hình thành.

Lịch sử hình thành miền Tây Nam Bộ

Thời chúa Nguyễn và Tây Sơn

Năm 1658, Chúa Nguyễn Phúc Tần  giúp hoàng thân Chân Lạp là Batom Reachea lên ngôi và đã ký hiệp ước với triều đình Chân Lạp cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa

Năm 1679 quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến, Long môn , Trần Thượng Xuyên Trần An không chịu làm tôi nhà Thanh đã đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin làm dân Đại Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần vì muốn khai khẩn đất Chân Lạp nên bèn cho vào ở đất Đông Phố.

Năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu phái Nguyễn Hữu Cảnh đi làm kinh lược đất Chân Lạp. Ông chia đất Đông Phố của những người Tàu ra làm dinh, làm huyện, rồi sai quan vào cai trị. Chúa Nguyễn lại tiếp tục chiêu mộ những người lưu dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra những thôn xã và khai khẩn ruộng đất, người Việt và Tàu ở đây đều thuộc về sổ bộ của nước Việt chúa Nguyễn.

Mạc Cửu một người gốc Quảng Đông vì nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh nên đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp. Năm 1680, Mạc Cửu đã mở rộng đất đai của mình gồm những vùng đất: Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc khi đó đang thuộc Chân Lạp những nơi mà triều đình Chân Lạp không kiềm soát được.

Năm 1708 để tránh áp lực thường xuyên của quân Xiêm La sang cướp phá, Mạc Cửu đã dâng  hiến đất khai phá cho chúa Nguyễn Phúc Chú, chúa Nguyễn đổi tên thành Trấn Hà Tiên và phong Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản vùng đất Hà Tiên.

Từ năm 1735 – 1739 Mạc Thiên Tứ là con trai của Mạc Cửu mở rộng đất đai thuộc kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang và Cần Thơ. Đưa thêm những vùng đất mới này vào Trấn Hà Tiên thuộc đàng trong.

Năm 1753, vua Chân Nặc Nguyên (Ang Tong) thông sứ chúa Trịnh ở ngoài đàng ngoài lập mưu đánh chúa Nguyễn, chúa Nguyễn Phúc Khoát cử Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên.

Năm 1755, Nặc Nguyên thua bỏ thành Nam Vang chạy sang Hà Tiên cầu cứu Mạc Thiên Tứ, xin dâng hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp (nay là Tân An và Gò Công) cho chúa Nguyễn để cầu hòa.

Năm 1757 Nặc Nguyên mất, chú họ Nặc Nhuận dâng hai phủ Trà Vinh, Ba Thắc (Sóc Trăng) xin chúa Nguyễn Phúc Khoát phong làm vua Chân Lạp. Sau đó Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết và cướp ngôi. Quan tổng suất Trương Phúc Du thừa kế sang đánh Nặc Hinh. Chúa Nguyễn cho lập Nặc Tôn (Outey II) là con Nặc Nhuận đang nương nhờ Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu là Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn.

Nặc Tôn lại dâng 5 phủ là Hương Úc, Cần Bột, Trực Sâm, Sài Mạt, Linh Quỳnh để tạ ơn riêng Mạc Thiên Tứ, ông đem những đất ấy dâng lại cho chúa Nguyễn và được cai quản 5 vùng đất này. Sau khi Pháp thành lập ra Liên bang Đông Dương đã cắt trả về cho Cao Miên, ngày nay là 2 tỉnh Takéo và Kampot.

bản đồ lịch sử miền tây nam bộ

Thời nhà Nguyễn độc lập

Vào thời Triều Nguyễn (vua Gia Long) thành lập vào năm 1802,ông tiếp tục sự nghiệp của các chúa Nguyễn, đã hoàn thiện hệ thống hành chính và thống nhất quản lí trên quy mô cả nước.

Vua Minh Mạng vào năm 1832 đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên được gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh hay còn được gọi là Lục tỉnh.

Năm 1836 vua đổi thành Gia Định (là tỉnh thành Sài Gòn)  Biên Hòa (là tỉnh thành Biên Hòa) Định Tường (là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông và Vĩnh Long (là tỉnh thành Vĩnh Long) An Giang (là tỉnh thành Châu Đốc) Hà Tiên (là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây.

Trong số 6 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ thì đã có 4 tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) bao gồm: Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Ngoài ra còn có một phần đất đai của tỉnh Gia Định lúc bấy giờ cũng nằm trong khu vực miền Tây Nam Bộ, tương đương với một phần các tỉnh Long An và Tiền Giang (vùng đất Gò Công) ngày nay.

Thời kháng chiến chống Pháp và Mĩ

Tháng 12/1845 ba nước An Nam (Việt Nam), Xiêm (Thái Lan) và Miên (Campuchia) đã ký một hiệp ước, thừa nhận 6 tỉnh Nam kỳ thuộc Việt Nam. Năm sau 1846 triều Nguyễn và Xiêm lại ký một hiệp ước khác có nhắc lại điều đó. Đây là một hiệp ước mà sau này Cao Miên cũng tham gia.

Như vậy đến năm 1845 các nước láng giềng với Việt Nam, trong đó có cả Campuchia đã ký các văn bản pháp lý chính thức và công nhận vùng đất Nam Bộ là của Việt Nam.

Năm 1858, Pháp tấn công Nam Bộ rồi lần lượt chiếm 6 tỉnh Nam Kì, triều Nguyễn điều động quân đội tiến hành kháng chiến chống Pháp. Khi kháng chiến thất bại triều đình nhà Nguyễn đã ký các hiệp định nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền Đông (vào năm 1862) và 3 tỉnh miền Tây (vào năm 1874).

Sau khi lập ra Liên bang Đông Dương, Pháp thực thi chủ quyền trên vùng đất Nam Bộ, tiến hành hoạch định biên giới giữa Nam kỳ và Campuchia theo luật của nước Pháp. Năm 1889 Pháp và Campuchia đã ký một loạt các văn bản pháp lý hoạch định, phân giới cắm mốc biên giới giữa Nam Kì và Campuchia.

Ngày 4/6/1949, trước thắng lợi liên tiếp của Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tổng thống Pháp V.Ô-ri-ôn đã ký Bộ luật số 49-733 trả lại Nam Kì cho chính quyền Bảo Đại.

Như vậy đến năm 1949 vùng đất Nam Bộ vốn từng bị triều Nguyễn “nhượng” cho thực dân Pháp đã được trả lại cho Việt Nam bằng một văn bản có giá trị pháp lý, Chính phủ Pháp đã khẳng định những cơ sở lịch sử và luật pháp của văn bản này với Vương quốc Campuchia.

Từ đó về sau chủ quyền Việt Nam trên vùng đất Nam Bộ được các hiệp định có giá trị pháp lý quốc tế thừa nhận như là Hiệp định Gieneve (1954) giữa nước ta và Pháp; Hiệp định Pari (1973) giữa nước ta và Mỹ, được cộng đồng quốc tế trong đó có Lào và Campuchia thừa nhận.

Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, đất nước bị chia cắt, đã xảy ra nhiều xung đột tranh chấp chủ quyền biên giới giữa chính quyền Sài Gòn và Campuchia. Ngày 9/5/1967 Chính phủ vương quốc Campuchia đã ra tuyên bố kêu gọi các nước tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nước Campuchia trong đường biên giới hiện tại.

Trước tình hình đó, ngày 31/5/1967 và 8/6/1967 Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà đã ra tuyên bố thừa nhận và tôn trọng đường biên giới hiện tại của Campuchia.

Và đến cuối năm 1968, có 34 nước trên thế giới đã ra tuyên bố tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia trong đường biên giới hiện tại.

Từ sau ngày hoà bình thống nhất đất nước (30/4/1975) đến nay Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Campuchia đã ký các hiệp ước:

– Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước được ký ngày 18/2/1979.

– Hiệp ước về biên giới trên đất liền ký vào ngày 20/7/1983.

– Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa hai nước ký ngày 27/12/1985.

– Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985, ký ngày 10/10/2005 giữa Chính phủ 2 nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và với Chính phủ Vương quốc Campuchia.

Ngày 7/9/2006 đại diện Chính phủ hai nước tiến hành khởi công xây dựng cột mốc quốc tế đầu tiên tại cửa khẩu Mộc Bài (Tây Ninh Việt Nam) và Ba Vet (Campuchia), đầu năm 2008, cắm xong mốc đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Campuchia.

Di tích lịch sử miền tây nam bộ

Nhắc tới miền Tây Nam Bộ cũng có rất nhiều di tích lịch sử cho các bạn thích khám phá và tìm hiểu.

Cụm di tích Bình Tả

Là một quần thể di tích từ thời xa xưa được phân bố theo các trục lộ cổ và sông Vàm Cỏ Ðông, cụm di tích Bình Tả thuộc nền văn hoá Óc Eo – Phù Nam, và có niên đại từ TK 1 đến thế kỷ 7 sau Công nguyên.

di tích bình tả miền tây nam bộ

 

Ngôi nhà 100 cột

Di tích này được xây dựng vào những năm 1901-1903 bởi một nhóm thợ miền Trung, ngôi nhà 100 cột có kiểu kiến trúc thời Nguyễn mang dấu ấn rõ rệt của phong cách Huế.

Ngôi nhà 100 cột miền tây nam bộ

Khu di tích căn cứ tỉnh ủy

Đây là nơi tham quan của rất nhiều du khách, cũng như các bạn học sinh, sinh viên-giới trẻ ngày nay ở miền Tây Nam Bộ, học tập truyền thống bất khuất kiên cường của cha ông ta thời trước.

Khu di tích căn cứ tỉnh ủy miền tây nam bộ

Di tích Long Mỹ

Di tích Long Mỹ là một điểm du lịch sinh thái, văn hóa hấp dẫn tại tỉnh Hậu Giang. Nơi đây đang được nhiều du khách biết đến và ghé thăm cho một chuyến du lịch. Du khách sẽ được trải nghiệm cảm giác thanh thản, yên bình của một tỉnh thuộc miền tây sông nước.

Di tích Long Mỹ miền tây nam bộ

Khu di tích Gò Tháp

Đến Gò Tháp, bạn sẽ bất ngờ bởi đây không chỉ là khu di tích mà còn có cảnh quan thiên nhiên vô cùng đẹp xinh đẹp với môi trường sinh thái còn mang nhiều dấu vết hoang sơ. Khu di tích Gò Tháp thuộc ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười tỉnh Đồng Tháp.

Khu di tích Gò Tháp miền tây nam bộ

Lăng cụ phó bảng

Tọa lạc ở 123/1, đường Phạm Hữu Lầu, thuộc phường 4, thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp. Lăng cụ phó bảng thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước đến Đồng Tháp tham quan và viếng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc, thể hiện sâu sắc lòng biết ơn đối với Người đã có công sinh thành chủ tích nước Hồ Chí Minh.

Lăng cụ phó bảng miền Tây Nam Bộ

Nhà cổ Bình Thủy

Nằm ở 26/1A đường Bùi Hữu Nghĩa, P. Bình Thuỷ, Q. Bình Thuỷ TP.Cần Thơ. Nhà cổ Bình Thủy là một trong các ngôi nhà kiểu Pháp hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn ở miền Tây Nam Bộ. Ngôi nhà này được gia đình họ Dương xây vào năm 1870.

Nhà cổ Bình Thủy miền tây nam bộ

Nhà công tử Bạc Liêu

Nhà công tử Bạc Liêu nằm ở số 13, Điện Biên Phủ, phường 3 thị xã Bạc Liêu, ngôi nhà mang phong cách kiến trúc thời Pháp với thiết kế nội thất sang trọng và tao nhã. Bạn sẽ được nhìn ngắm nơi ở trước đây của công tử Bạc Liêu

Nhà công tử Bạc Liêu miền tây nam bộ

Hy vọng bài viết này sẽ có ích cho các bạn muốn tìm hiểu về vùng quê thanh bình và yên ả này.

Chia sẻ